TS.BS. Nguyễn Đạo Thuấn
Xuất tinh máu đã được đề cập trong nhiều thế kỷ trước. Hippocrates, Galen, Pare, Morgagni và Fournier đều bình luận về tình trạng này. Báo cáo đầu tiên vào năm 1894, nhóm chuyên gia Mỹ đã có những đánh giá đương đại xuất sắc và đã được xuất bản.
Để hiểu rõ nguyên nhân gây ra tình trạng xuất tinh có máu, kiến thức thực tế về giải phẫu liên quan của phức hợp xuất tinh là cần thiết.
Hình 1: Giải phẫu học tuyến tiền liệt – túi tinh
Túi tinh là cơ quan phụ thuộc androgen có chức năng sản xuất và lưu trữ tinh dịch, chất cần thiết cho khả năng sinh sản của nam giới. Các túi tinh được quan sát tốt nhất bằng siêu âm qua trực tràng. Các túi tinh bình thường là các cấu trúc cặp phẳng nằm ở phần đầu của tuyến tiền liệt phía sau bàng quang và có hình dạng giống như chiếc nơ trên hình ảnh cắt ngang.
Ở trạng thái xẹp bình thường, trung tâm của túi tinh là đồng nhất, với các vùng tăng âm tương ứng với các nếp gấp của biểu mô tiết. Ở trạng thái căng phồng, thành túi được cấu tạo rõ ràng bằng 2 lớp riêng biệt.
Kích thước của túi tinh thay đổi theo độ tuổi nhưng không thay đổi theo trạng thái xuất tinh. Khi siêu âm cắt ngang (TRUS), kích thước được ước tính là dài 30 ± 5 mm, rộng 15 ± 4 mm và thể tích trung bình là 13,7 ± 3,7 mL. Tuổi của bệnh nhân và mức độ phì đại tuyến tiền liệt liên quan đến sự thay đổi kích thước của túi tinh.
Ống dẫn tinh hoạt động như ống dẫn tinh trùng giữa mào tinh hoàn và ống phóng tinh. Các bóng ống đi vào đường giữa tới các túi tinh, được nhìn thấy rõ nhất khi sử dụng mặt cắt TRUS xuyên trục.
Ống phóng tinh được tiếp nối từ hợp nhất của túi tinh và ống dẫn tinh. Ống phóng tinh đi qua tuyến tiền liệt và mở ra ở niệu đạo ngang mức lồi tinh. Điểm nối giữa túi tinh và ống phóng tinh nằm trong tuyến tiền liệt và rất khó nhìn thấy.
Khi xuất tinh, tinh dịch từ túi tinh và tuyến tiền liệt được phóng qua niệu đạo ra ngoài.
Xuất tinh máu thường liên quan đến tình trạng viêm của túi tinh hoặc tuyến tiền liệt. Tình trạng này thường tự giới hạn và tự khỏi trong vòng 1 – 2 tháng. Nếu tình trạng xuất tinh máu kéo dài hơn 2 tháng, nên kiểm tra thêm để xác định nguyên nhân. Trong khoảng một nửa số trường hợp, nguyên nhân được cho là vô căn. Tuy nhiên, điều này có thể phản ánh một đánh giá chẩn đoán chưa thật sự đầy đủ.
Bệnh lý của tuyến tiền liệt có thể là nguyên nhân gây ra tình trạng xuất tinh máu. Nguyên nhân phổ biến nhất là sinh thiết tuyến tiền liệt, tạo ra tình trạng chảy máu tự giới hạn và tự khỏi trong vòng khoảng 1 tháng.
Một số tác giả khác đã cho rằng ung thư tuyến tiền liệt là một yếu tố căn nguyên. Nhìn chung giao động khoảng 10%. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu khác cho thấy ung thư tuyến tiền liệt ít liên quan trình trạng xuất tinh máu.
Xuất tinh máu cũng có thể do giãn mao mạch, vỡ tĩnh mạch niêm mạc niệu đạo tuyến tiền liệt. Chẩn đoán này được xác nhận bằng đánh giá nội soi bàng quang – niệu đạo.
Viêm tuyến tiền liệt thường được cho là gây ra tình trạng xuất tinh máu, mặc dù không có mối liên quan cụ thể nào được báo cáo. Nếu bệnh nhân có các dấu hiệu và triệu chứng của viêm tuyến tiền liệt cấp tính do vi khuẩn, việc điều trị cụ thể sẽ được chỉ định. Nếu có các triệu chứng của hội chứng đau vùng chậu mãn tính (CP/CPPS), nên thực hiện cấy nước tiểu và sau đó nuôi cấy dịch tiết tuyến tiền liệt. Xuất tinh máu không phải là triệu chứng thường gặp của viêm vùng chậu mạn tính.
Một nghiên cứu khác báo cáo về sự giãn nở nang của tuyến tiền liệt có liên quan đến tình trạng xuất tinh máu.
Xuất tinh máu có thể xuất hiện sau sinh thiết tuyến tiền liệt dưới sự hướng dẫn của TRUS để chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt.
Cắt đốt nội soi tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt qua niệu đạo (TURP) cũng liên quan đến tình trạng xuất tinh máu sau đó.
Xạ trị trong điều trị ung thư tuyến tiền liệt được chứng minh là gây ra tình trạng xuất tinh máu ở khoảng 17% số bệnh nhân.
Viêm niệu đạo từ lâu đã được công nhận là nguyên nhân gây ra tình trạng xuất tinh ra máu, đặc biệt là ở nam giới trẻ tuổi.
Các tổn thương khác của niệu đạo dẫn đến xuất tinh máu bao gồm u nang, polyp, hẹp niệu đạo…
Nhiều tác giả cho rằng u nang túi tinh bẩm sinh và mắc phải là nguyên nhân gây ra tình trạng có máu. U nang túi tinh bẩm sinh có liên quan đến sự bất sản thận cùng bên và/hoặc tình trạng bất sản ống dẫn tinh cùng bên.
Gần đây hơn, bệnh amyloidosis của túi tinh được mô tả là có liên quan đến tình trạng xuất tinh máu.
Dữ liệu mới nhất cho thấy thương tổn lành tính túi tinh và u nang ống phóng tinh là nguyên nhân gây ra tình trạng xuất tinh máu nhiều nhất.
Nhiễm khuẩn và viêm không nhiễm chiếm 40% trường hợp. Các nguyên nhân truyền nhiễm gây ra xuất tinh máu như lao tiết niệu (TB), nhiễm HIV và nhiễm cytomegalovirus.
Chấn thương đã được coi là nguyên nhân gây xuất tinh máu trong một số trường hợp như tiêm xơ trĩ, chấn thương tinh hoàn và tầng sinh môn, sau sinh thiết tuyến tiền liệt bằng kim qua trực tràng…
Các rối loạn hệ thống có liên quan đến tình trạng xuất tinh máu bao gồm tăng huyết áp, bệnh gan mãn tính, bệnh amyloidosis, ung thư hạch và bệnh tạng chảy máu (ví dụ, bệnh von Willebrand).
Tỷ lệ thực sự của bệnh xuất tinh máu là không rõ, do nhiều trường hợp không được bệnh nhân thông báo, các báo cáo khoa học chưa đầy đủ.
Xuất tinh máu có thể xảy ra ở nam giới ở mọi lứa tuổi. Ở nam giới trẻ tuổi (< 40 tuổi), tình trạng xuất tinh máu hầu hết lành tính. Ngay cả ở những người đàn ông lớn tuổi, tình trạng xuất tinh máu hiếm khi liên quan đến bệnh ác tính.
Tình trạng xuất tinh máu thường lành tính và tự giới hạn. Tuy nhiên, việc tiên lượng phụ thuộc vào bệnh lý căn nguyên tiềm ẩn.
Khi phát hiện máu trong tinh dịch bằng kính hiển vi, màu sắc của tinh dịch có thể thay đổi, tùy thuộc vào khoảng thời gian kể từ khi xuất tinh máu xảy ra. Nếu mới chảy máu, tinh dịch có thể có màu từ đỏ nhạt đến nâu, với chảy máu cũ, tinh dịch có thể có màu nâu sẫm hoặc có cục đen.
Ngoài việc xác nhận rằng máu không có trong nước tiểu của bệnh nhân hoặc từ bạn tình, các câu hỏi về những điều sau đây có thể giúp định hướng chẩn đoán phân biệt liên quan đến tình trạng có máu trong tinh dịch:
Hầu hết bệnh nhân có nhiều hơn một đợt, xảy ra trong nhiều tuần đến nhiều tháng. Mặc dù chưa xác định được định nghĩa thống nhất về tình trạng xuất tinh có máu mãn tính, nhưng máu trong tinh dịch vẫn tồn tại hơn 10 lần xuất tinh cần được đánh giá thêm. Trong khi một số Hiệp hội chuyên ngành khác thì sử dụng đơn vị thời gian (tức là tháng) làm hướng dẫn. Tuy nhiên, phương pháp này kém tin cậy hơn do sự khác biệt về tần suất xuất tinh mỗi nam giới.
Tuổi của bệnh nhân là quan trọng. Ở những bệnh nhân dưới 40 tuổi, nhiễm khuẩn tiết niệu – sinh dục là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra xuất tinh máu và việc điều trị thường đơn giản. Ở nam giới trên 40 tuổi bị xuất tinh máu dai dẳng hoặc có các triệu chứng liên quan như tiểu máu, việc loại trừ bệnh ác tính ở đường tiết niệu – sinh dục là cần thiết.
Việc khám thực thể nên bao gồm đo huyết áp của bệnh nhân, vì tăng huyết áp nặng có liên quan đến tình trạng xuất tinh máu.
Cần chú ý cẩn thận những điều sau khi khám sức khoẻ; dương vật và miệng niệu đạo phải được kiểm tra cẩn thận để loại trừ bất kỳ tổn thương nào có thể gây tiểu máu và xuất tinh máu.
Các ống dẫn tinh nên được sờ nắn để xác định có hiện diện ống dẫn tinh, cũng như loại trừ bất kỳ tình trạng xơ cứng hoặc nốt sần nào. Bất kỳ nốt sần nào mà không có phẫu thuật ống dẫn tinh trước đó (bao gồm cả thắt ống dẫn tinh) có thể là tình trạng nhiễm khuẩn mạn tính ống dẫn tinh. Các nốt sần này hiếm khi biểu hiện sự lan rộng của khối u ác tính tuyến tiền liệt hoặc bàng quang.
Khi thăm khám qua trực tràng bằng ngón tay (DRE), cần đặc biệt chú ý đến các túi tinh và sự hiện diện của bất kỳ khối nào ở đường giữa. Các túi tinh thường là những cấu trúc không thể sờ thấy được. Nếu sờ thấy được thì thường có bệnh lý tiềm ẩn. Ở nam giới lớn tuổi (> 50 tuổi), cũng cần đặc biệt chú ý đến tuyến tiền liệt vì xuất tinh máu hiếm khi là dấu hiệu báo trước của ung thư tuyến tiền liệt.
Các nguyên nhân cần xem xét trong chẩn đoán tình trạng xuất tinh máu bao gồm:
Ở những nam giới trẻ tuổi có xuất tinh máu không dai dẳng, chỉ cần thăm khám qua trực tràng (DRE), cùng với việc kiểm tra các dấu hiệu sinh tồn, khám thực thể cẩn thận.
Ở những người đàn ông lớn tuổi (> 50 tuổi) có xuất tinh máu không dai dẳng và không có tiểu máu, việc đánh giá cơ bản bao gồm DRE và đo kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA). Nếu xuất tinh máu dai dẳng (> 2 tháng không xác định được nguyên nhân) cần phải khảo sát thêm cận lâm sàng dưới đây.
Tổng phân tích nước tiểu và nuôi cấy có thể hữu ích vì nhiễm khuẩn đường tiết niệu – sinh dục có thể liên quan đến tình trạng xuất tinh máu. Xét nghiệm này có chi phí không cao và kết quả dương tính gợi ý nguyên nhân, nên cấy nước tiểu được khuyến khích ở tất cả các bệnh nhân có xuất tinh máu dai dẳng.
Ở nam giới trẻ tuổi, viêm niệu đạo nên được xem xét trong các chẩn đoán phân biệt. Xét nghiệm nên được thực hiện để giúp loại trừ viêm niệu đạo không đặc hiệu hoặc do lậu cầu.
Nếu tiền sử cho thấy phơi nhiễm với bệnh lao (TB), cấy nước tiểu để tìm trực khuẩn kháng axit có thể tỏ ra hữu ích vì bệnh lao có thể là nguyên nhân, mặc dù hiếm gặp gây ra xuất tinh máu.
Khi có tiểu máu, cần thiết phải đánh giá toàn diện hơn về đường tiết niệu – sinh dục.
Vai trò của phân tích tinh dịch và nuôi cấy vẫn chưa rõ ràng. Mặc dù được một số tác giả ủng hộ. Ý nghĩa của kết quả cấy dương tính vẫn chưa chắc chắn, vì điều này có thể đơn giản là biểu hiện nhiễm khuẩn niệu đạo. Phân tích tinh dịch có thể hữu ích trong việc phân biệt tình trạng xuất tinh máu thực sự với các nguyên nhân khác gây ra sự đổi màu tinh dịch.
Xét nghiệm kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA) được khuyến nghị ở tất cả nam giới trên 50 tuổi, đặc biệt nam giới trên 40 tuổi có tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Xuất tinh máu có thể là một dấu hiệu của bệnh ung thư tuyến tiền liệt.
Các xét nghiệm về đông cầm máu được khuyến nghị ở nam giới mọi lứa tuổi có xuất tinh máu kéo dài (> 2 tháng).
TRUS và MRI cho phép hình dung rõ ràng các túi tinh, tuyến tiền liệt và các phần bóng của ống dẫn tinh, giúp xác định căn nguyên bệnh lý.
TRUS không được khuyến cáo sử dụng thường quy ở những bệnh nhân ban đầu có xuất tinh máu. Tuy nhiên, TRUS có thể có giá trị để đánh giá bệnh nhân lớn tuổi hoặc những người bị xuất tinh máu dai dẳng hoặc các triệu chứng liên quan.
MRI có thể phát hiện những bất thường, như giãn nở u nang túi tinh và tuyến tiền liệt, có máu trong túi tinh.
Xuất tinh máu dai dẳng (>3 tháng) không có nguyên nhân trước đó hoặc liên quan đến bất thường trên TRUS hoặc MRI có thể cần đánh giá thêm nội soi túi tinh. Yang và cộng sự đã mô tả một kỹ thuật trong đó sử dụng ống soi niệu quản cứng 6F hoặc 9F để tiếp cận nang tuyến tiền liệt hoặc ống phóng tinh. Theo cách này, ống soi được sử dụng để kiểm tra trực quan các túi tinh và sau đó có thể lấy mẫu sinh thiết từ bất kỳ vị trí nào có bất thường. Yang và cộng sự phát hiện máu và sỏi túi tinh được tìm thấy lần lượt là 62% và 16%. Một nghiên cứu của Xing và cộng sự, cho thấy nội soi bàng quang túi tinh qua niệu đạo tốt hơn TRUS trong việc phát hiện sỏi và tắc nghẽn/hẹp ở nam giới có xuất tinh máu dai dẳng.
Mặc dù chụp CT đã được sử dụng để nghiên cứu hình thái của túi tinh, nhưng chưa có nghiên cứu nào được công bố nhắm mục tiêu cụ thể đến nam giới mắc bệnh xuất tinh máu.
Do mối liên quan của tình trạng xuất tinh máu với các tổn thương niệu đạo và tuyến tiền liệt, trong trường hợp không có nhiễm khuẩn đường tiết niệu – sinh dục hoặc chưa xác định nguyên nhân rõ ràng khác, nội soi bàng quang niệu đạo có thể hỗ trợ bác sĩ lâm sàng xác định nguồn gốc chảy máu. Tuy nhiên, tất cả các bệnh nhân có tiểu máu đồng thời nên được nội soi bàng quang và đánh giá đường tiết niệu trên.
Mục tiêu chính trong việc kiểm soát tình trạng xuất tinh máu là tư vấn đúng cách cho những bệnh nhân tránh tình trạng quá lo lắng, bệnh thường lành tính và tự khỏi. Xuất tinh máu hiếm khi liên quan đến bệnh lý nghiêm trọng, đặc biệt là ở nam giới trẻ tuổi.
Ba yếu tố quyết định mức độ đánh giá và điều trị bao gồm:
Nhiễm khuẩn đường tiết niệu – sinh dục cần điều trị bằng kháng sinh thích hợp để giải quyết vấn đề. Ở tất cả nam giới, vi khuẩn đường ruột (đặc biệt là Escherichia coli) nên được điều trị nếu sử dụng liệu pháp theo kinh nghiệm. Ở nam giới trẻ tuổi, cũng nên sử dụng liệu pháp đồng thời điều trị nhiễm Chlamydia nếu tìm ra nguyên nhân nhiễm khuẩn.
Giãn tĩnh mạch niệu đạo hoặc tuyến tiền liệt được điều trị hiệu quả nhất. U nang của túi tinh hoặc niệu đạo tuyến tiền liệt có thể được chọc hút qua đường trực tràng hoặc nội soi niệu đạo cắt xẻ nang.
Đối với sỏi trong ống phóng tinh hoặc túi tinh, có thể xét điều trị nội soi tán sỏi LASER bằng ống soi niệu quản bán cứng.
Hiện tại, không có bằng chứng nào cho thấy việc tiêm bất kỳ chất nào, chất đông máu hoặc chất xơ cứng là có hiệu quả trong việc kiểm soát tình trạng xuất tinh máu.
Chảy máu tạng hoặc các rối loạn hệ thống khác cần được điều trị thích hợp.
Ở nam giới bị tắc nghẽn đường tiết niệu dưới, có thể sử dụng thuốc ức chế 5-alpha reductase (> 3 tháng, có thể giảm bớt tình trạng xuất tinh máu vô căn, khó chữa trị).
Hiện tại không có cơ sở lý luận nào cho việc sử dụng các thuốc như estrogen hoặc corticotropin, những loại thuốc đã được sử dụng trước đây.
Những bệnh nhân bị chảy máu tĩnh mạch do giãn vỡ tĩnh mạch tuyến tiền liệt được cho là nguyên nhân gây ra xuất tinh máu có thể xem xét phương pháp nội soi niệu đạo đốt tĩnh mạch (Fulguration).
Nội soi ống phóng tinh và túi tinh bằng ống nội soi niệu quản bán cứng kiểm tra và can thiệp các thương tổn có thể ở ống dẫn tinh, túi tinh và bóng của ống dẫn tinh. Tuy nhiên, kỹ thuật này chỉ dành cho những trường hợp xuất tinh máu khó chữa nhất có liên quan đến bệnh lý khác đi kèm (ví dụ, bí tiểu hoặc tiểu máu dai dẳng) …
Trong trường hợp không tái phát, không cần theo dõi cụ thể đối với tình trạng xuất tinh máu. Tình trạng ra máu mãn tính (> 2 tháng) hoặc tái phát nên được đánh giá dựa trên các đặc điểm lâm sàng liên quan.
Kết luận:
Tài liệu tham khảo:
KHÔNG XẢ ĐƯỢC BÓNG ỐNG THÔNG Foley: Phải làm thế nào? TS.BS. Nguyễn Đạo Thuấn Tình trạng không rút được ống thông Foley do nghẹt hoặc không xả được bóng chèn thường do tắc…
TS.BS. Nguyễn Đạo Thuấn I. Nang thận là gì? Nang thận là khối dịch bất thường tại nhu mô thận, có thể xuất hiện ở một hoặc hai bên thận. Nang thận thường có…
TS.BS. Nguyễn Đạo Thuấn Các tuyến Skène niệu đạo được mô tả đầu tiên bởi Tiến sĩ Alexander Johnston Chalmers Skène vào cuối thế kỷ XIX. Mặc dù, không được nhiều người biết đến…